Deutschland online bookmaker http://artbetting.de/bet365/ 100% Bonus.

Bắc Hà đột phông nghiệp công nghệ cao tăng thu nhập cho người dân

Để nâng cao hiệu quả SXNN, tìm hướng thoát nghèo cho người dân, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai đã tập trung phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tạo ra sản phẩm năng suất, chất lượng cao theo chuỗi nông sản sạch, từng bước thay đổi tập quán canh tác lạc hậu của đồng bào......

Xem thêm: Bắc Hà đột phông nghiệp công nghệ cao tăng thu nhập cho người dân

Nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 3 tháng

Năm 2015, nhóm nghiên cứu do TS. Nguyễn Văn Thắng thuộc Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu - Bộ Tài nguyên và Môi trường đứng đầu đã tiến hành nghiên cứu xây dựng hệ thống dự báo, cảnh báo hạn hán cho Việt Nam với thời hạn đến 03 tháng. Đây là đề tài nghiên cứu về khoa học công nghệ phòng tránh thiên tai, bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên thuộc chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp nhà nước.

Việt Nam là một trong những quốc gia chịu nhiều thiên tai nhất trên thế giới. Trong đó, hạn hán được xem là một trong những thiên tai gây thiệt hại lớn đứng thứ 3 sau lũ lụt và bão. Các khu vực thường xảy ra hạn hán là đồng bằng châu thổ sông Hồng, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Cũng đã có một số công trình nghiên cứu phát triển công nghệ giám sát và cảnh báo hạn hán cho Việt Nam nhưng hầu hết các chỉ số hạn hiện nay được tính với quy mô tháng và mùa (3 tháng) và chưa có xem xét quy mô ngắn hơn như tuần và ngày nên đôi khi có thể đưa ra các cảnh báo sai. Vì thế, với thông tin dự báo quy mô ngày, cường độ hạn được đánh giá lại thường xuyên sẽ cho phép cộng đồng chuẩn bị được kế hoạch ứng phó. Do đó, chỉ số hạn ngày đặc biệt quan trọng ở những khu vực có nhiều mưa xuất hiện mang tính địa phương, chỉ số hạn tháng chỉ có thể đánh giá ở cuối tháng. Vì lẽ đó, mục tiêu của nhóm nghiên cứu là xây dựng được mô hình dự báo hạn khí tượng cho phạm vi cả nước ta. Nhóm nghiên cứu tiến hành triển khai theo hai hướng sau: dự báo theo mô hình toán thống kê (mô hình thống kê cổ điển và mô hình thống kê dựa trên sản phẩm dự báo toàn cầu) và mô hình dự báo động lực. Dự báo theo mô hình toán thống kê hiện nay là hướng nghiên cứu chính của đề tài trong dự báo khí tượng, hướng nghiên cứu dự báo bằng mô hình động lực dùng lại ở dự báo các trường khí tượng (nhiệt độ, lượng mưa,...) phục vụ cảnh báo mức độ khô hạn (qua chỉ số thiếu hụt lượng mưa) và cung cấp số liệu đầu vào cho mô hình tính toán dự báo hạn nông nghiệp, hạn thủy văn. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng hướng đến mục tiêu xây dựng công nghệ dự báo nông nghiệp và hạn thủy văn vùng đồng bằng sông Hồng nhằm cung cấp cho các dự báo viên có được đánh giá toàn diện về tình trạng hạn hán trước khi đưa ra bản tin cảnh báo cho người sử dụng.

Đề tài bao gồm các nội dung nghiên cứu chính sau: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu; Phương pháp nghiên cứu và số liệu; Đặc trưng số liệu quan trắc; Nghiên cứu xây dựng mô hình thống kê dự báo hạn khí tượng; Ứng dụng mô hình động lực dự báo khí hậu hạn mùa phục vụ cảnh báo hạn khí tượng; Nghiên cứu xây dựng mô hình dự báo hạn thủy văn khu vực đồng bằng sông Hồng; Dự báo hạn nông nghiệp khu vực đồng bằng sông Hồng; Xây dựng quy trình công nghệ giám sát và dự báo hạn.

Qua quá trình nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã thu thập thành công các bộ số liệu khí tượng, hải văn, thủy văn và nông nghiệp phục vụ việc đánh giá các đặc trưng hạn hán, đánh giá kết quả thử nghiệm mô hình. Những số liệu này đều được cập nhật đến năm 2013. Đề tài đã xác định được các phương pháp đánh giá đặc trưng hạn hán, xây dựng mô hình dự báo hạn hán và phương pháp đánh giá kết quả thử nghiệm dự báo hạn hán. Các phương pháp được lựa chọn hiện đại và phù hợp với xu hướng phát triển nghiên cứu giám sát, dự báo hạn trên thế giới. Đề tài đã lựa chọn được các chỉ số hạn khí tượng, hạn thủy văn và hạn nông nghiệp phục vụ đánh giá các đặc trưng hạn, giám sát và dự báo hạn ở nước ta. Các phương pháp nghiên cứu của đề tài đảm bảo tính thừa từ các kết quả nghiên cứu trước đó ở trong và ngoài nước.

Về đặc trưng hạn khí tượng: Khu vực Trung bộ, Tây nguyên, Nam bộ là những nơi có mức độ hạn, cấp độ hạn và tần suất hạn cao hơn so với các khu vực miền núi phía Bắc và đồng bằng Bắc bộ. Hạn khắc nghiệt ở khu vực phía Nam cũng cao hơn, xuất hiện nhiều hơn trong khi phía Bắc rất hiếm hoi có hạn khắc nghiệt xảy ra. Thời gian hạn ở phía Nam cũng kéo dài và lùi muộn hơn, có xu thế tăng lên theo thời gian.

Hạn thủy văn: hạn hán xảy ra trên lực vực sông Hồng thường rơi tháng 1 và tháng 2, nặng nhất là tháng 1. Giá trị nhỏ nhất của chỉ số SWSI tại Sơn tây là -3,9 (1992), trạm Hà nội là -3,88 (1992), trạm Thượng cát là -3,98.

Hạn nông nghiệp: Hầu hết toàn vùng đều bị hạn trong đó đặc biệt là hạn cục bộ từng tháng. Các tháng khi gieo trồng, mức độ hạn trên 90% toàn vùng. Khi gieo trồng, gần 50% vùng bị hạn. Khi lúa vào giái đoạn làm đòng, chín, gần 50% số điểm toàn vùng bị hạn, thường xảy ra vào giữa và cuối vụ. Mức độ hạn từng tháng theo chỉ số Z cho thấy không ảnh hưởng lớn đến toàn vùng. Theo số liệu cho thấy, năm 2012-2013 có mức độ khắc nghiệt lớn hơn vào đầu vụ, kéo dài đến giữa vụ, cuối vụ chỉ 5% số điểm bị ảnh hưởng.

Về ngưỡng phân cấp hạn: Nhóm nghiên cứu đã xây dựng được ngưỡng phân cấp hạn cho các chỉ số hạn khí tượng, hạn thủy văn và hạn nông nghiệp phục vụ công tác giám sát, cảnh báo và dự báo hạn hán ở nước ta.

Về xây dựng mô hình thống kê dựng báo hạn khí tượng phạm vi toàn cầu: nhóm xây dựng thành công mô hình theo phương pháp thống kê cổ điển. Kết quả cho thấy xác xuất dự báo rất đúng với pha xảy ra hạn của mô hình, từ 60% đến trên 80%. Kết quả cho dự báo tốt nhất là khu vực Nam trung bộ, Tây nguyên và Nam bộ. Khu Bắc bộ có xác xuất thấp hơn, khoảng 70-80%. Bắc trung bộ và Trung trung bộ có xác xuất dự báo thấp nhất, khoảng 60-70%. Đồng thời, đề tài xây dựng thành công mô hình dự báo hạn khí tượng dựa trên cơ sở tiếp cận downscaling thống kê từ 9 sản phẩm đầu ra của mô hình toàn cầu.

Về ứng dụng mô hình động lực dự báo hạn khí tượng: đã thử ứng dụng được sản phẩm dự báo toàn cầu từ mô hình CFS và áp dụng mô hình khu vực RSM, CWRF vào dự báo khí hậu hạn mùa phục vụ cảnh báo hạn hán ở nước ta trong chế độ nghiệp vụ. Mô hình này có thể áp dụng cho Việt Nam.

Về việc xây dựng mô hình dự báo hạn thủy văn: nhóm đã xây dựng được chương trình dự báo dòng chảy với thời gian dự kiến từ 1 tháng đến 3 tháng cho các hồ chứa Hòa Bình, Sơn La, Thác Bà, Tuyên Quang và trạm thủy văn Sơn Tây, Hà Nội, Thượng Cát bằng phương pháp thống kê và mô hình thủy văn, thủy lực. Có thể ứng dụng hai phương pháp này cho dự báo dòng chảy vào mùa cạn. Xây dựng được chương trình tính toán chỉ số SWSI cho vùng đồng bằng sông Hồng, kết quả phân bố hạn được thể hiện qua phần mềm dưới dạng bản đồ chỉ số SWSI cho từng nhánh sông.

Về xây dựng mô hình dự báo hạn nông nghiệp: xác định được chỉ số hạn Palmer cho phép đánh giá được hạn nông nghiệp ở đồng bằng Bắc Bộ cả về không gian, thời gian và mức độ. Hoàn toàn có thể sử dụng chỉ số này vào giám sát và đánh giá hạn hán ở khu vực đồng bằng sông Hồng.

Hệ thống giám sát và dự báo hạn cho Việt Nam: xây dựng thành công hệ thống giám sát hạn hán theo thời gian gần thực bằng công nghệ viễn thám cho khu vực Việt Nam dựa trên số liệu vệ tinh. Hệ thống này cung cấp thông tin giám sát và cảnh báo hạn hán ở mức độ phân giải cao (4x4km). Các sản phẩm cung cấp gồm bản đồ, biểu đồ, bảng chi tiết đến từng khu vực nhỏ, hoặc tùy khu vực mà người sử dụng lựa chọn. Hệ thống này là kết quả hợp tác giữa Viện khoa học Khí tưởng Thủy văn và Biến đổi khí hậu với trường đại học Tokyo (Nhật Bản).

Các kết quả này của nhóm nghiên cứu đã góp phần nâng cao hiểu biết về hạn hán và phát triển các mô hình dự báo và cảnh báo hạn hán. Mở rộng phạm vi ứng dụng của công tác phục vụ thông tin khí hậu và dự báo khí hậu. Góp phần giảng dạy và đào tạo cán bộ khoa học trong lĩnh vực dự báo Khí tưởng thủy văn. Các thông tin giám sát, dự báo, cảnh báo hạn hán góp phần tăng cường khả năng cảnh báo thiên tai, phục vụ bố trí kế hoạch sản xuất nông nghiệp, giảm nhẹ thiệt hại do hạn hán gây ra.  

NASATI

Côn trùng có thể tìm ra cây nhiễm virus

Các nghiên cứu trước đây đã chứng minh virus làm thay đổi mùi của thực vật, nhưng chưa giải thích được tại sao côn trùng luôn bị thu hút bởi những cây nhiễm bệnh.

Một nghiên cứu mới đây được tài trợ bởi Liên minh châu Âu và Hội đồng Nghiên cứu môi trường tự nhiên (Anh) đã làm sáng tỏ điều này.

Các nhà sinh học tại Đại học Bristol (Anh) đã sử dụng một loạt bức ảnh chụp với bộ lọc phân cực và xác định rằng, lá của những cây bị nhiễm virus ít phân cực ánh sáng hơn so với lá của những cây khỏe mạnh. Loài rệp hút nhựa cây hoặc côn trùng có hại cho thực vật nhờ vào đó mà nhận ra cây bị nhiễm bệnh. Sau đó khi bay sang cây khỏe mạnh, chúng sẽ lây virus cho cây. Nguyên nhân của hiện tượng giảm phân cực ánh sáng xuất phát từ lớp sáp của biểu bì lá.

Các nhà khoa học lưu ý virus ở cây nhiễm bệnh do rệp có sơ đồ gene khác với virus ở cây nhiễm bệnh không phải do côn trùng.

Sự lây lan của mầm bệnh thực vật làm giảm đáng kể năng suất cây trồng và ngày càng đe dọa an ninh lương thực. Biết được cơ chế virus lây lan, các nhà khoa học có thể giảm thiểu và ngăn chặn quá trình lây truyền bệnh.

Giáo sư Gary Foster thuộc Đại học Bristol (Anh) nói: “Sự lây truyền virus ở thực vật do côn trùng gây nên có ảnh hưởng rất lớn đối với nông nghiệp và môi trường”.

Những phát hiện này được kỳ vọng sẽ khuyến khích các nhà khoa học nghiên cứu sâu hơn để giảm bớt mối lo về an ninh lương thực toàn cầu. Nó có thể được sử dụng để bổ sung cho một nghiên cứu trước đó với kết luận: Lá cây có thể phát hiện các sóng ánh sáng và điều chỉnh tốc độ tăng trưởng cho phù hợp khi cạnh tranh với các cây lân cận. Khi tốc độ tăng trưởng được cải thiện và nguy cơ nhiễm virus giảm, năng suất cây trồng có thể tăng đáng kể.

Nghiên cứu được công bố trên tạp chí PLoS ONE vào ngày 24/4/2016 vừa qua.

theo PLoS ONE

Bò hạnh phúc tạo ra sữa bổ dưỡng hơn

Truyền hàng ngày vào bò một loại hóa chất được cho là có mối liên quan với cảm giác hạnh phúc cho thấy làm tăng nồng độ canxi trong máu của bò Holstein và sữa của bò Jersey vừa mới sinh con. Các kết quả được công bố trên Tạp chí Nội tiết, có thể dẫn đến sự hiểu biết tốt hơn về cách cải thiện sức khỏe của bò sữa, và duy trì nguồn sữa.

Nhu cầu đối với sữa giàu canxi rất lớn. Canxi trong cơ thể người nhiều hơn bất kỳ khoáng chất nào khác, và trong các sản phẩm sữa của phương tây như sữa, pho mát và sữa chua là nguồn canxi chính. Nhưng nhu cầu này có thể sẽ bị ảnh hưởng lớn từ bò sữa, do khoảng 5-10% quần thể bò sữa ở Bắc Mỹ bị hạ calci máu. Nguy cơ của bệnh này đặc biệt cao ngay trước và sau khi bò đẻ.

Hạ calci máu được coi là một tình trạng lớn về sức khỏe trong cuộc sống của một con bò. Nó liên quan với những vấn đề về miễn dịch và tiêu hóa, giảm tỷ lệ mang thai và khoảng thời gian dài giữa các lần mang thai. Những tất cả đều đặt ra một vấn đề đối với nông dân bò sữa do lợi nhuận phụ thuộc vào sự mang thai thường xuyên của bò và năng suất sữa giàu canxi.

Tuy đã có nghiên cứu về điều trị hạ calci máu, nhưng có ít nghiên cứu tập trung vào việc phòng ngừa. Trong các loài gặm nhấm, người ta đã chứng minh được rằng, serotonin (một chất hóa học trong tự nhiên thường liên kết với cảm giác hạnh phúc) đóng vai trò trong việc duy trì nồng độ canxi; trên cơ sở này, một nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Wisconsin-Madison, do tiến sĩ Laura Hernandez đứng đầu, đã tìm hiểu tiềm năng của serotonin trong viêc tăng nồng độ canxi trong cả sữa và máu của bò sữa. Nhóm nghiên cứu truyền một loại hóa chất có thể chuyển đổi thành serotonin vào 24 con bò sữa, trong thời gian tới khi sinh. Một nửa số bò là Jersey và nửa còn lại là Holstein - hai trong số những giống bò phổ biến nhất. Nồng độ canxi trong cả sữa và máu lưu thông được đo trong suốt thí nghiệm.

Tuy serotonin cải thiện tình trạng canxi tổng thể ở cả hai giống, nhưng lại theo hai cách ngược nhau. Bò Holstein có mức canxi cao trong máu, nhưng lại có mức canxi thấp trong sữa (so với nhóm bò đối chứng). Điều ngược lại diễn ra ở bò Jersey và mức sữa canxi cao hơn đặc biệt rõ ràng ở bò Jerseys vào ngày thứ 30 của quá trình sinh sữa – cho thấy vai trò của serotonin trong việc duy trì nguồn sữa  của bò.

"Bằng cách nghiên cứu hai giống bò, đã phát hiện thấy sự điều chỉnh nồng độ canxi là khác nhau giữa hai giống", Laura Hernandez cho biết. "Serotonin tăng canxi trong máu ở bò Holstein, và tăng canxi trong sữa ở bò Jersey. Chúng tôi cũng lưu ý rằng điều trị serotonin không ảnh hưởng đến sản lượng sữa, lượng thức ăn tiêu thụ hoặc mức độ các hormone cần thiết cho quá trình sinh sữa".

Bước tiếp theo là tìm hiểu về cơ chế phân tử mà serotonin điều chỉnh mức canxi, và điều này khác nhau giữa các giống ra sao.

Theo ScienceDaily

Download Template Joomla 3.0 free theme.