Deutschland online bookmaker http://artbetting.de/bet365/ 100% Bonus.

Bình đẳng giới tạo cơ hội cho mỗi cá nhân cùng phát triển

Luật Bình đẳng giới đã được Quốc hội khóa XI thông qua tại kỳ họp thứ 10 ngày 29-10-2006 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007. Luật đã quy định nguyên tắc bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, biện pháp để bảo đảm bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan tổ chức, gia đình và cá nhân trong việc thực hiện bình đẳng giới. bao t 9

Sự nhận thức không đúng đắn về giới và bình đẳng giới sẽ tạo ra những tôn ti trật tự trong đó làm giảm vị thế của nữ giới, dẫn đến bất bình đẳng giới ngay trong gia đình, quan niệm xã hội. Trong gia đình, con người học những bài học đầu tiên về tôn ti trật tự, về sự tuân thủ, sự phân biệt đối xử. Con trai học cách quyết đoán và thống trị, con gái học sự dịu hiền, phục tùng. Trong gia đình truyền thống, ông bà, cha mẹ truyền dạy cho cháu con những nguyên mẫu về các quan niệm và hành vi mong đợi được cho là thích hợp đối với mỗi giới và các kỳ vọng của xã hội đối với nam giới và nữ giới. Chẳng hạn, quan niệm chung về đặc điểm tính cách của nữ giới là dịu dàng, nam giới là mạnh mẽ, quyết đoán. Do vậy, phụ nữ được quan niệm là gắn liền với vai trò của người mẹ, người vợ, người nội trợ, là người phụ thuộc không quan tâm đến việc họ có thu nhập cao hay thấp; nam giới trở thành trụ cột về kinh tế, là tấm gương đạo đức, là chỗ dựa về tinh thần của phụ nữ và trẻ em, là người chủ gia đình, đại diện cho gia đình trong các quan hệ xã hội và cộng đồng. Những đặc tính trên của nữ giới hay nam giới thực chất là do xã hội gán cho hoặc mong đợi các cá nhân nam và nữ thực hiện. Quan niệm trên chính là những định kiến giới đã tồn tại từ thế hệ này đến thế hệ khác. Những định kiến giới đó đã dẫn đến tình trạng bất bình đẳng giới tồn tại phổ biến trong xã hội xưa và nay.

Để Luật Bình đẳng giới đi vào cuộc sống nếu chỉ có luật thôi thì chưa đủ. Có nhiều lý do khiến cho Luật Bình đẳng giới gặp một số khó khăn để đi vào cuộc sống trong đó có sự hạn chế trong nhận thức của xã hội về khái niệm "bình đẳng giới". Thực tế cho thấy hiện nay không ít người vẫn chưa hiểu đúng khái niệm "bình đẳng giới" và cho rằng bình đẳng giới chỉ là bình đẳng nam - nữ; không công bằng trong bình đẳng giới nghĩa là không công bằng giữa nam giới và phụ nữ.

Theo khoản 1 2 3 điều 5 của Luật Bình đẳng giới thì:

1. Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam và nữ.

2. Giới là khái niệm chỉ đặc điểm vị trí và vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội.

3. Bình đẳng giới là việc nam nữ có vị trí vai trò ngang nhau được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.

Ở đây cần phải phân biệt khái niệm giới tính và khái niệm giới. Vì giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam và nữ nên khái niệm này có những đặc điểm:

- Bị quy định hoàn toàn bởi gen qua cơ chế di truyền từ mẹ sang con cái.

- Mang tính bẩm sinh (sinh ra đã là nam hay nữ).

- Các đặc điểm giới tính hầu như không phụ thuộc vào không gian thời gian. (từ xưa cho tới nay ở bất kỳ nơi nào trên trái đất về mặt đặc điểm sinh học thì phụ nữ vẫn là phụ nữ và nam giới vẫn là nam giới).

- Các đặc điểm sinh học có những biểu hiện thể chất có thể quan sát được trong cấu tạo giải phẫu sinh lý người (nam và nữ có những đặc điểm sinh học khác nhau về gen cơ quan nội tiết hoóc môn cơ quan sinh dục..)

- Gắn liền với một số chức năng sinh học (ví dụ phụ nữ có khả năng mang thai và sinh con).

- Khác với khái niệm giới tính giới là khái niệm chỉ đặc điểm vị trí và vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội nên có những đặc điểm sau:

- Một phần còn bị quy định bởi các yếu tố tiền đề sinh học của giới tính ( Ví dụ chúng ta thường nói: Cháu là trai nên rất đàn ông ăn to nói lớn).

- Không mang tính di truyền bẩm sinh mà mang tính tập nhiễm (tức là bị quy định bởi điều kiện sống của cá nhân và xã hội được hình thành và phát triển qua hàng loạt các cơ chế bắt chước học tập ám thị...).

- Mang tính đa dạng phong phú cả về nội dung hình thức và tính chất. (Chúng ta thấy các đặc điểm giới bộc lộ qua suy nghĩ tình cảm và hành vi của mỗi cá nhân nhóm.)

Như vậy về bản chất khái niệm giới tính mang tính bình đẳng bởi đơn giản nó chỉ là đặc điểm sinh học của nam và nữ. Nhưng chúng ta thấy trong khi tham gia vào các mối quan hệ xã hội thì nam và nữ có những đặc điểm vị trí và vai trò không ngang bằng nhau. Đó chính là bất bình đẳng giới. Bởi vậy khi sử dựng thuật ngữ chúng ta không dùng "bất bình đẳng giới tính" mà chỉ được dùng "bất bình đẳng giới".

Khái niệm "bình đẳng giới" phải được hiểu như thế nào? Theo Luật Bình đẳng giới   thì mọi người dù là nam giới hay phụ nữ với tư cách là các cá nhân đều có quyền bình đẳng và cần được tạo cơ hội để phát huy tiềm năng sắn có của mình cũng như có quyền thụ hưởng bình đẳng trong quá trình phát triển chung như:

- Tiếp cận và sử dụng các nguồn lực (tài chính, đất đai, thời gian, cơ hội...)

- Tham gia quyết định những vấn đề liên quan tới việc sử dụng nguồn lực.

- Tham gia vào các hoạt động chính trị kinh tế văn hóa xã hội...

- Thụ hưởng những thành tựu của sự phát triển.

Bình đẳng giới không có nghĩa và không đòi hỏi số lượng phụ nữ và nam giới tham gia vào các hoạt động phải ngang bằng nhau mà bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và nam giới, trẻ em gái và trẻ em trai phải có cơ hội ngang nhau trong việc sử dụng các quyền của họ. Và vì thế bình đẳng giới đòi hỏi các chương trình phát triển các dịch vụ công và các dịch vụ xã hội phải được thiết kế sao cho đáp ứng được các nhu cầu nhiều mặt phù hợp với mức độ ưu tiên khác nhau của phụ nữ và nam giới. Nếu làm được việc này thì sự phát triển kinh tế xã hội sẽ dẫn tới sự công bằng trong việc hưởng thụ các thành quả và mở ra cơ hội như nhau cho phụ nữ và nam giới trong việc phát huy các tiềm năng của cá nhân họ.

Vấn đề bình đẳng giới đã được Đảng, Nhà nước ta đánh giá là có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của đất nước. Do đó, bình đẳng giới trở thành trung tâm của phát triển, là một mục tiêu phát triển, là một yếu tố để nâng cao khả năng tăng trưởng của quốc gia, xóa đói giảm nghèo và quản lý nhà nước có hiệu quả. Thiên vị và bất bình đẳng giới gây tổn hại đến thế hệ tương lai và làm cho sự chênh lệch giữa nam và nữ trong gia đình và ngoài xã hội trở nên dai dẳng. Bất bình đẳng giới ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của cá nhân và của đất nước.

Tóm lại: bản chất của bình đẳng giới là sự tôn trọng tạo điều kiện cho cả nam và nữ cùng phát triển cùng nhau cống hiến nhiều nhất cho xã hội và đáp ứng các nhu cầu của cá nhân, của cộng đồng.

Tác giả: ThS. Nguyễn Thị Tần

 

Download Template Joomla 3.0 free theme.