Deutschland online bookmaker http://artbetting.de/bet365/ 100% Bonus.

Nâng cao năng lực tư duy cho sinh viên qua vận dụng phương pháp luận biện chứng duy vật trong giảng dạy Học phần Triết học Mác - Lênin

Sinh viên nói chung và sinh viên Phân hiệu Đại học Thái Nguyên tại tỉnh Lào Cai nói riêng là lớp người đang trưởng thành, đang chuẩn bị hành trang nghề nghiệp cần thiết và chín muồi về nhân cách, là lực lượng trí thức của tương lai. Do đó, nâng cao năng lực tư duy cho sinh viên là nhiệm vụ quan trọng giúp sinh viên có tư duy khoa học trong quá trình học tập và làm việc sau khi ra trường. Tuy nhiên, để nâng cao năng lực tư duy thì mỗi sinh viên cần hiểu rõ và xác định nội dung phương pháp luận biện chứng duy vật (BCDV); xác định vấn đề cần giải quyết để chọn đúng phương pháp, gắn lý luận và thực tiễn. Đây cũng là cơ sở quan trọng để mỗi sinh viên hình thành năng lực tư duy, nhận thức và giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra một cách đúng đắn.

 

1.Vai trò của năng lực tư duy trong hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn của sinh viên Phân hiệu

Năng lực tư duy có vai trò quan trọng trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, sẽ giúp cho mỗi sinh viên:

- Tiếp nhận tri thức một cách khoa học, sáng tạo, có cái nhìn toàn diện, phân biệt tri thức đúng, sai; chỉ ra nguyên nhân cái sai và khẳng định, phát triển tri thức đúng đắn. Sinh viên tự học, tự nghiên cứu, giải thích sự biến đổi của thực tiễn và có thể đề xuất những giải pháp phù hợp với thực tiễn đặt ra.

- Có phương pháp học tập, làm việc đúng đắn; khắc phục tình trạng học tủ, học vẹt mà hướng tới học hiểu, biết vận dụng, biết đánh giá và sáng tạo ra tri thức mới. 

- Loại bỏ tư duy siêu hình, cứng nhắc, bảo thủ, trì trệ, chủ quan, duy ý chí.
2. Nội dung rèn luyện phương pháp luận biện chứng duy vật cho sinh viên thông qua giảng dạy Học phần Triết học Mác - Lênin  

Hầu hết sinh viên có thể rèn luyện năng lực tư duy qua nhiều môn học, nhưng đối với sinh viên năm thứ nhất cần rèn luyện phương pháp luận biện chứng thông qua môn Triết học Mác - Lênin. Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật (BCDV) bao gồm: Hai nguyên lý cơ bản của phép BCDV; Các cặp phạm trù cơ bản của phép BCDV; Các quy luật cơ bản của phép BCDV; Lý luận nhận thức duy vật biện chứng (DVBC). Từ những nội dung này, giúp sinh viên biết rút ra phương pháp luận để vận dụng trong cuộc sống, lao động, học tập và rèn luyện. Việc rèn luyện phương pháp luận BCDV cho sinh viên thông qua giảng dạy môn Triết học Mác - Lênin gồm các nội dung cơ bản sau: 

Thứ nhất, rèn luyện cho sinh viên có quan điểm toàn diện trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Quan điểm toàn diện đòi hỏi sinh viên nhận thức và xử lý các tình huống thực tiễn cần phải xem xét sự vật, hiện tượng và phải đặt nó trong mối liên hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật, hiện tượng và trong sự tác động qua lại giữa sự vật, hiện tượng đó với sự vật, hiện tượng khác. Trong hoạt động thực tế, sinh viên phải sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau để tác động vào đối tượng nhằm đem lại hiệu quả cao nhất. Mặt khác, giúp cho sinh viên có thể nhận diện và phê phán quan điểm phiến diện, quan điểm chiết trung, ngụy biện.
Thứ hai, rèn luyện cho sinh viên có quan điểm lịch sử cụ thể trong nhận thức và hành động. Quan điểm lịch sử cụ thể đòi hỏi sinh viên trong nhận thức và xử lý các tình huống, giải thích các hiện tượng cần phải xét đến tính đặc thù của đối tượng nhận thức. Khi nhận thức sự vật và tác động vào sự vật phải chú ý điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể, môi trường cụ thể mà trong đó sự vật sinh ra, tồn tại, phát triển. Phải xác định rõ vị trí, vai trò khác nhau của từng mối liên hệ cụ thể, trong tình huống cụ thể. 

Thứ ba, rèn luyện cho sinh viên có quan điểm phát triển trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn. Với quan điểm phát triển đòi hỏi sinh viên không chỉ nắm bắt cái hiện đang tồn tại của sự vật, mà còn phải thấy rõ khuynh hướng phát triển trong tương lai của chúng; phải thấy được những biến đổi đi lên cũng như những biến đổi có tính chất thụt lùi, khuynh hướng chung là phát triển đi lên, tức phải thấy được tính quanh co, phức tạp của sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển của nó. Sinh viên phải biết phân chia quá trình phát triển của sự vật thành từng giai đoạn, từ đó có cách tác động phù hợp thúc đẩy sự vật phát triển. Cần giúp sinh viên nhận diện và phê phán quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến trong nhận thức và hành động. 

Thứ tư, rèn luyện phương pháp luận biện chứng qua nghiên cứu phương pháp luận rút ra từ các cặp phạm trù cơ bản của phép BCDV: Cái riêng và cái chung, nguyên nhân và kết quả, tất nhiên và ngẫu nhiên, nội dung và hình thức, bản chất và hiện tượng, khả năng và hiện thực. 

Thứ năm, rèn luyện phương pháp luận biện chứng qua nghiên cứu những quy luật cơ bản của phép BCDV. Cụ thể, với quy luật chuyển hoá từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại, người giảng viên cần rèn luyện cho sinh viên trong nhận thức và hành động phải biết đi từ những tích lũy về lượng để làm biến đổi về chất, cách thức tích lũy về lượng (tăng về số lượng, thay đổi cách sắp xếp các yếu tố cấu thành, hay cả hai mặt chất và lượng), phải có quyết tâm để tiến hành bước nhảy thông qua vận dụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy. Đồng thời khắc phục hai tư tưởng trái ngược nhau là tư tưởng tả khuynh (nôn nóng, bất chấp quy luật, chủ quan duy ý chí) và tư tưởng hữu khuynh (bảo thủ, trì trệ) đối với việc vận dụng quy luật. Đối với quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, giảng viên cần rèn luyện cho sinh viên hiểu sâu sắc rằng, để nhận thức đúng đắn bản chất của sự vật, hiện tượng và tìm ra phương hướng, giải pháp hiệu quả thì phải nghiên cứu, phát hiện ra mâu thuẫn của sự vật; phải xem xét sự vật trong thể thống nhất những mặt (nét tương đồng), những khuynh hướng trái ngược nhau, tìm ra những mặt đối lập và những mối liên hệ, sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt đối lập đó; phải biết phân loại mâu thuẫn để đưa ra phương pháp đấu tranh cho phù hợp (tìm ra phương thức, phương tiện và lực lượng giải quyết mâu thuẫn để thúc đẩy sự vật phát triển). Đối với quy luật phủ định của phủ định, giảng viên cần rèn luyện cho sinh viên nhận thức đúng đắn về xu hướng phát triển của sự vật là đường “xoáy ốc”, hiểu rõ quá trình phát triển của sự vật không phải lúc nào cũng đi theo đường thẳng, mà nhiều khi diễn ra quanh co, phức tạp, bao gồm nhiều chu kỳ khác nhau và ở mỗi chu kỳ này, sự vật có những đặc điểm riêng biệt, nên phải có cách tác động phù hợp, phải biết ủng hộ cái mới, đồng thời kế thừa có chọn lọc những cái vốn có tinh hoa của cái cũ.

Thứ sáu, rèn luyện phương pháp biện chứng cho sinh viên nghiên cứu nội dung Lý luận nhận thức duy vật biện chứng. Với nội dung này người giảng viên cần rèn luyện sinh viên nắm vững quan điểm thực tiễn, nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, phê phán chủ nghĩa kinh nghiệm, chủ nghĩa giáo điều. Đồng thời giảng viên cần giảng giải để sinh viên hiểu được nhận thức là một quá trình, lặp đi lặp lại không có điểm dừng: từ thực tiễn tới nhận thức - từ nhận thức lại trở về thực tiễn - từ thực tiễn tiếp tục quá trình nhận thức và loài người càng tiến dần đến chân lý. Qua đó sinh viên phải nhận thức được chân lý là khách quan, chống những quan điểm chủ quan cho rằng chân lý là thuộc về kẻ mạnh, chân lý thuộc về đa số, chân lý là lý lẽ hợp lý, chân lý gắn với lợi ích…; phê phán chủ nghĩa tuyết đối và chủ nghĩa tương đối, cần xác định chân lý vừa mang tính tương đối, vừa mang tính tuyệt đối và chân lý là cụ thể. Đồng thời, phương pháp luận biện chứng phải được xét trên lập trường duy vật, nên phải chú ý phần thế giới quan duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin.

3. Vận dụng phương pháp luận biện chứng duy vật để nâng cao năng lực tư duy cho sinh viênthông qua giảng dạy môn Triết học Mác - LêninTrang bị tri thức đầy đủ về phương pháp luận BCDV cho sinh viên. Cần tập trung cho sinh viên nắm vững phương pháp luận được rút ra từ lý luận phép BCDV: quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử - cụ thể, quan điểm phát triển, quan điểm thực tiễn; phương pháp luận được rút ra từ các cặp phạm trù, các quy luật cơ bản của phép BCDV … Trong quá trình giảng dạy giảng viên  cần so sánh, phân tích lý luận, nêu vấn đề cho sinh viên giải quyết, sau đó kết luận. Ví dụ: Giảng dạy Quy luật chuyển hóa từ sự sự thay đổi về lượng thành sự thay đổi về chất và ngược lại. Giảng viên có thể đạt câu hỏi: Vì sao sự phát triển diễn ra theo đường “xoáy ốc” mà không theo đường thẳng hoặc theo vòng tròn khép kín? Qua đó người giảng viên cần đưa ra những cứ liệu cả trong tự nhiên, xã hội và tư duy để chứng minh. 

Rèn luyện cho sinh viên các phương pháp biện chứng thông qua thực tiễn cách mạng, giảng viên có thể đưa ra ví dụ để sinh viên vận dụng. Ví dụ: Đảng ta đã vận dụng nguyên tắc khách quan trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam như thế nào?; Anh (chị)có thể chỉ ra sự vận dụng phương pháp luận BCDV qua câu nói của Hồ Chí Minh: “Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ”; hoặc tìm những câu thơ, tục ngữ, ca dao, danh ngôn phản ánh tư tưởng triết học DVBC. Ngoài ra có thể định hướng cho sinh viên lấy một ví dụ trong thực tiễn để làm rõ sự vận động, phát triển của sự vật chịu tác động đồng thời cả ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật.

Định hướng cho sinh viên có ý thức tự vận dụng phương pháp luận biện chứng trong quá trình học tập, rèn luyện và trong cuộc sống. Muốn nâng cao năng lực tư duy sinh viên cần nắm vững, áp dụng triệt để phương pháp luận BCDV trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn. Ví dụ: Vận dụng quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử - cụ thể trong quá trình học tập của bản thân. Trong quy luật phủ định của phủ định có thể định hướng cho sinh viên vận dụng tính kế thừa của phủ định biện chứng trong cuộc sống, học tập của sinh viên; Hoặc bản thân sinh viên cần kế thừa như thế nào về truyền thống văn hóa dân tộc? Dựa vào phương pháp luận của cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả để rèn luyện đạo đức bản thân. Sinh viên phải nhận thức được bất cứ kết quả nào cũng có nguyên nhân của nó, từ đó sinh viên có ý thức làm việc thiện, tránh việc ác. Hướng dẫn để sinh viên biết vận dụng phương pháp luận biện chứng duy vật vào trong thực tiễn, cuộc sống thông qua những vấn đề cụ thể.

Thường xuyên kiểm tra, đánh giá phương pháp biện chứng cho sinh viên. Có thể kiểm nội dung tự học tự nghiên cứu thông qua các nhiệm vụ thảo luận nhóm, kiểm tra kiến thức bằng câu hỏi ngắn, bài tập trắc nghiệm, hay giải thích một hiện tượng nào đó trong cuộc sống. Ví dụ: Giải thích có hiện tượng học giỏi mà thi rớt đại học trên cơ sở lý luận phép biện chứng duy vật? Hoặc, hãy dựa vào quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử - cụ thể để phân tích nguyên nhân thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945. 

Tóm lại, để nâng cao năng lực tư duy của sinh viên thông qua rèn luyện phương pháp BCDV, người giảng viên cần xác định trọng tâm, nắm vững nội dung và phương pháp dạy học, gắn kết chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, thường xuyên hướng dẫn sinh viên tự học tự nghiên cứu và có biện pháp kiểm tra sinh viên dưới nhiều hình thức, định hướng cho sinh viên vận dụng kiến thức lý luận vào thực tiễn cuộc sống bản thân. Đồng thời, thông qua giảng dạy môn triết học Mác - Lênin sẽ rèn luyện phương pháp BCDV cho sinh viên, góp phần quan trọng vào việc xây dựng và nâng cao năng lực tư duy biện chứng, giúp cho sinh viên năm thứ nhất Phân hiệu ĐHTN tại tỉnh Lào Cai giải quyết tốt các vấn đề trong cuộc sống, học tập; làm việc một cách khoa học, sáng tạo; góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo sinh viên Phân hiệu ĐHTN tại tỉnh Lào Cai trong giai đoạn mới./. 

ThS. Chu Thị Liễu - Khoa Khoa học Cơ Bản

 

Download Template Joomla 3.0 free theme.