Lao Cai Campus

Lịch sử hình thành và phát triển của công tác Đánh gia tác động môi trường tại Việt Nam

Tại Việt Nam, vào thời điểm hình thành Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) trên thế giới (năm 1969), chúng ta chưa có điều kiện tiếp cận lĩnh vực này. Phải đến đầu những năm 80, các nhà khoa học Việt Nam mới tiếp cận công tác ĐTM thông qua các hội thảo khoa học và các khoá đào tạo. Chính phủ Việt Nam cũng sớm nhận thức được vấn đề bảo vệ môi trường và ĐTM nên đã tạo điều kiện cho các cơ quan, cá nhân tiếp cận các lĩnh vực này. Đầu những năm 80, một nhóm các nhà khoa học Việt Nam, đứng đầu là Giáo sư Lê Thạc Cán đã đến Trung tâm Đông - Tây (Ha – Oai, Mỹ) nhằm nghiên cứu về Luật, Chính sách môi trường nói chung và ĐTM nói riêng.

1

GS. TS. Lê Thạc Cán

Từ năm 1978 đến 1990, nhà nước đã đầu tư vào nhiều chương trình điều tra cơ bản như: Chương trình điều tra cơ bản vùng Tây Nguyên, vùng đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh giáp biển miền Trung,... Các số liệu, kết quả thu được từ các chương trình này chính là cơ sở cho công tác ĐTM. Cũng trong khoảng thời gian này, một chương trình nghiên cứu tài nguyên môi trường đã được thiết lập và thực hiện. Chương trình này đã tiến hành nghiên cứu một số vấn đề suy thoái tài nguyên và môi trường ở Việt Nam như: suy thoái đất, suy thoái rừng, suy thoái đa dạng sinh học ở nhiều vùng lãnh thổ Việt Nam.

Sau năm 1990, Nhà nước ta cho tiến hành chương trình nghiên cứu môi trường mang mã số kinh tế 02, trong đó có một đề tài trực tiếp nghiên cứu về ĐTM, đề tài mang mã số KT 02 - 16 do Giáo sư Lê Thạc Cán chủ trì. Trong khuôn khổ đề tài này, một số báo cáo ĐTM mẫu đã được lập, đáng chú ý là báo cáo ĐTM của nhà máy giấy Bãi Bằng và ĐTM công trình thuỷ lợi Thạch Nham. Mặc dù chưa có Luật Bảo vệ môi trường và các điều luật về ĐTM song nhà nước đã yêu cầu một số dự án phải có báo cáo ĐTM, chẳng hạn như công trình thuỷ điện Trị An, nhà máy lọc dầu Thành Tuy Hạ.

Một loạt cơ quan nghiên cứu và quản lý môi trường đã được thành lập như: Cục Môi trường thuộc Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, các Trung tâm, Viện Môi tường,... Các cơ quan trên sẽ đảm nhận công tác lập báo cáo ĐTM và tiến hành thẩm định các báo cáo này.

Việc biên soạn, thông qua và ban hành Luật Bảo vệ môi trường đã mở ra một bước ngoặt trong công tác bảo vệ môi trường nói chung và ĐTM nói riêng ở nước ta. Luật Bảo vệ môi trường đã được Quốc hội thông qua lần đầu tiên vào ngày 27/12/1993 và Chủ tịch nước ra Quyết định công bố số 29L/CTN ngày 10/01/1994. Hơn 10 năm sau, Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi, bổ sung đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 01 năm 2005. Gần đây nhất, ngày 23 tháng 6 năm 2014, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi (Luật Bảo vệ môi trường năm 2014), khắc phục được những hạn chế của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đồng thời bổ sung một số nội dung mới như: tăng trưởng xanh, biến đổi khí hậu và an ninh môi trường,... nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng qua nhiều thời kỳ, đặc biệt là Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2013 của Ban chấp hành Trung ương khóa XI với tiêu đề “Chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”. Trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành công trong công tác bảo vệ môi trường suốt những năm qua, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 được xem là bước tiến quan trọng để nước ta tiếp tục nâng cao hiệu quả trong công tác bảo vệ môi trường, cụ thể là công tác ĐTM trong giai đoạn mới.

Trong Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) đã quy định rõ các dự án đang hoạt động và dự án muốn hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam phải lập báo cáo ĐTM và trình các cấp có thẩm quyền xét duyệt (Điều 17, 18 – Luật BVMT 1993, Điều 18 – Luật BVMT 2005, Điều 18 – Luật BVMT 2014).

Sau khi Luật BVMT ra đời, nhiều báo cáo ĐTM đã được thẩm định góp phần giúp những người ra quyết định có thêm tài liệu để xem xét toàn diện các dự án phát triển ở Việt Nam.

Cùng với việc ban hành Luật, Nhà nước cũng đã ban hành rất nhiều văn bản pháp luật dưới dạng các Nghị định của Chính phủ, các Quyết định, Thông tư của Bộ Tài nguyên và Môi trường, trong đó quy định cụ thể việc thực hiện và hướng dẫn các đơn vị, tổ chức, cá nhân thực hiện ĐTM trong thực tế. Nhờ đó, ĐTM cho đến nay đã trở thành một công việc phổ biến, nằm trong khung pháp luật của Nhà nước mà tất cả các dự án đều thực hiện.

Hiện nay, tại Việt Nam đã có đội ngũ đông đảo các nhà khoa học làm công tác ĐTM, trong đó có nhiều chuyên gia được đào tạo trong và ngoài nước, bước đầu đã tập hợp được những kinh nghiệm quý báu qua những công trình đã đánh giá thực tế. Việc thực hiện ĐTM ở Việt Nam cũng còn những vấn đề tồn tại cần tiếp tục giải quyết, tuy nhiên, có thể nói cho đến nay hệ thống văn bản pháp lý cho thực hiện ĐTM đã tương đối đầy đủ và tiếp cận được yêu cầu của thực tế. Việc thực hiện ĐTM đã dần đi vào nề nếp và có đóng góp rất đáng kể cho sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước.  

Nội dung và quy trình thực hiện ĐTM tại Việt Nam đã có những thay đổi và phát triển theo từng thời kỳ. Quy trình thực hiện ĐTM trước đây ở Việt Nam còn đơn giản và lạc hậu so với quy trình chung của thế giới, nhưng cho đến nay đã được điều chỉnh phù hợp hơn. Các yêu cầu và chất lượng của các báo cáo ĐTM cũng đã được nâng cao rõ rệt nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển Kinh tế - Xã hội và yêu cầu bảo vệ môi trường.

ThS. Lưu Thị Cúc – Khoa Nông lâm

Newer news items:

Older news items: