ÁP DỤNG TIẾN BỘ KHOA HỌC – KỸ THUẬT VÀO THỰC TẾ SẢN XUẤT: “CHĂN NUÔI TRÊN NỀN ĐỆM LÓT SINH HỌC – NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ”

 

ThS. Lưu Thị Cúc – Khoa Nông lâm

Việt Nam là nước nông nghiệp với khoảng 70% dân số sống ở vùng nông thôn. Vì vậy, sản xuất Nông nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế-xã hội, trong đó chăn nuôi chiếm khoảng 25-28% tổng GDP sản xuất Nông nghiệp (số liệu của Tổng cục thống kê, năm 2018). Vài năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta phát triển mạnh về cả số lượng lẫn quy mô, tổng giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi 3 tháng đầu năm 2019 đạt 129 triệu USD, tăng 1,4% so với cùng kì năm 2018 (Theo Báo cáo tình hình Chăn nuôi cả nước tháng 3/2019 của Bộ NN&PTNT).

Tuy nhiên, bên cạnh việc các sản phẩm chăn nuôi (trứng, thịt, sữa,…) mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân thì các hoạt động sản xuất chăn nuôi của còn gây phát thải lượng chất thải lớn, khoảng 75-85 triệu tấn mỗi năm. Thêm vào đó, việc quản lý và xử lý lượng chất thải này trong thực tế ít được quan tâm, nhiều địa phương thiếu quy hoạch chăn nuôi gây ô nhiễm môi trường. Số liệu từ Viện Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho thấy: nồng độ khí H2S và NH3 (hai chất khí thải độc trong môi trường) trong chất thải chăn nuôi cao hơn mức cho phép khoảng 30-40 lần, gây mùi hôi thối, rất khó chịu. Tổng số vi sinh vật, bào tử nấm và trứng giun sán,… cao hơn nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép. Đây chính là nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh về hô hấp và tiêu hóa. Tổ chức Y tế Thế giới - WHO đã cảnh báo, nếu không có biện pháp thu gom và xử lý chất thải chăn nuôi một cách thỏa đáng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người, vật nuôi và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Trước thực trạng trên, rất nhiều giải pháp, nhiều công nghệ đã và đang được áp dụng để xử lý chất thải chăn nuôi, như: ủ nhiệt sinh học, ủ với men vi sinh, xây dựng công trình khí sinh học (biogas), công nghệ chăn nuôi trên nền đệm lót sinh học, công nghệ ấu trùng ruồi đen và công nghệ giun đất, … Trong đó, công nghệ chăn nuôi trên nền đệm lót sinh học đã bộc lộ nhiều ưu điểm nổi bật, được ứng dụng rộng rãi tại nhiều nước phát triển như: Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kông, Hoa Kỳ, Anh, Thái Lan, Hàn Quốc... và gần đây là Việt Nam.

Công nghệ chăn nuôi trên nền đệm lót sinh học thực chất là công nghệ chăn nuôi lợn, gà, vịt … trên một lớp đệm dày khoảng 25 - 60 cm, bao gồm mùn cưa, trấu, rơm cắt nhỏ và cám gạo được trộn với chế phẩm sinh học, có tác dụng tiêu hủy phân và nước tiểu trong chuồng nuôi, hình thành một lớp sinh khối sạch, hạn chế vi khuẩn và ký sinh trùng gây bệnh, loại bỏ ruồi muỗi, không mùi hôi, đồng thời tạo ra nguồn phân hữu cơ rất tốt cho cây trồng.

1

 

  1. 1.ƯU ĐIỂM CỦA CHĂN NUÔI TRÊN NỀN ĐỆM LÓT SINH HỌC

Số liệu tổng hợp từ các kết quả nghiên cứu và thực tiễn chăn nuôi trên nền đệm lót sinh học cho thấy, đệm lót sinh học mang lại nhiều lợi ích, cụ thể như sau:

(1) Vật nuôi (lợn, gà, vịt …) nuôi trên đệm lót sinh học khỏe mạnh, đồng đều, ít bệnh tật; vật nuôi tăng trọng nhanh do tăng khả năng tiêu hóa, hấp thu thức ăn và chất lượng thịt thơm ngon.

(2) Việc phân giải phân, nước tiểu làm cho mùi hôi, khí độc trong chuồng nuôi hầu như không còn, tạo môi trường sống tốt cho vật nuôi, cải thiện môi trường sống cho người lao động và tạo cơ hội để phát triển chăn nuôi ngay cả gần các khu dân cư.

(3) Đệm lót sinh học giúp tiết kiệm 60% nhân lực, vì:

  + Không còn phải sử dụng nhân lực dọn, rửa chuồng hàng ngày;

  + Không sử dụng nhân lực để tắm rửa cho vật nuôi;

  + Chỉ sử dụng nhân lực để cho vật nuôi ăn và quan sát diễn biến trạng thái của vật nuôi.

(4) Đệm lót sinh học giúp tiết kiệm 80% nước trong chăn nuôi, vì:

  + Không sử dụng nước rửa chuồng;

  + Không sử dụng nước để tắm rửa cho vật nuôi;

  + Nước được sử dụng duy nhất cho vật nuôi uống và phun giữ độ ẩm cho nền chuồng (đệm lót chuồng luôn có độ ẩm 30%).

(5) Đệm lót sinh học giúp tiết kiệm 10% thức ăn, vì:

  + Vật nuôi không bị stress từ môi trường và hoạt động tự do;

  + Vật nuôi thu nhận được một số chất từ nền đệm lót do sự lên men phân giải phân, nước tiểu, vỏ trấu, phụ phẩm nông nghiệp phơi khô băm nghiền nhỏ;

  + Khả năng tiêu hóa, hấp thu thức ăn của vật nuôi tốt hơn do vật nuôi tiếp nhận được một số vi sinh vật có lợi.

(6) Đệm lót sinh học giúp giảm tỷ lệ bệnh tật, đặc biệt là bệnh tiêu chảy, bệnh hen ở lợn; giảm tỷ lệ chết và loại thải ở gà (gà đẻ 5%, gà thịt 2%) do quá trình ức chế và tiêu diệt hệ vi sinh vật có hại, khống chế sự lên men sinh khí hôi thối. Hạn chế ruồi, muỗi (vì không có nước để muỗi sinh sản, không có phân để ruồi đẻ trứng). Các mầm bệnh - nguyên nhân lây lan dịch bệnh bị tiêu diệt hoặc hạn chế tới mức thấp nhất. Vì vậy giảm nhân công thú y và chi phí thuốc thú y.

(7) Hạch toán kinh tế:

+ Chi phí làm đệm lót từ nguyên vật liệu, nhân công bình quân cho 01 lợn thịt (diện tích chuồng nuôi 1,2m2, sâu 50-60cm) ở thời điểm hiện tại từ 100.000 – 150.000 đồng/lợn cho lứa nuôi thứ nhất, tăng thêm 50.000 đồng/con nếu nuôi lứa thứ 2 (do phải bổ xung nguyên vật liệu và nhân công tu bổ). Như vậy, cứ nuôi 100 lợn thịt chi phí đầu tư ban đầu làm đệm lót sinh học khoảng 10-15 triệu đồng.

+ Nguồn thu bán phân: Trên cơ sở diện tích đệm lót cho 01 lợn có thể tận thu được 25 bao phân (khoảng 20kg/bao). Với giá bán hiện nay khoảng 20.000đ/bao thì người chăn nuôi thu được khoảng 500.000đ/lợn. Nếu trừ chi phí 5.000đ/bao gồm (vỏ bao, nhân công) thì còn thu 450.000đ/lợn.

So với chi phí đầu tư ban đầu, sau mỗi lứa lợn, người nuôi thu nhập thêm được:

450.000 – (150.000 + 50.000) = 250.000 đồng/lợn.

Đây là con số ước lượng, chưa tính đến phần thu nhập tăng thêm thu từ việc tiết kiệm điện, nước, thuốc thú ý,…

Tóm lại: Dùng đệm lót sinh học trong chăn nuôi có lợi ích gì?

  1. 2.HẠN CHẾ KHI CHĂN NUÔI TRÊN ĐỆM LÓT SINH HỌC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT

(1) Cần có những nghiên cứu sâu, chuyên ngành về mặt phát thải, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với sản phẩm thịt nuôi theo quy trình này, tác động của hệ vi sinh vật đến môi trường sống...

(2) Do nhiệt độ, độ ẩm cao (nhất là trong mùa hè) nên vật nuôi thường phải hoạt động nhiều (ủi tìm chỗ mát, tìm nước để nằm) làm tiêu hao nhiều năng lượng, ảnh hưởng không tốt đến khả năng tăng trọng. Vấn đề stress nhiệt do đệm lót gây ra, đặc biệt trong những tháng nóng nhất của mùa hè chưa được giải quyết có hệ thống và kinh tế.

(3) Đệm lót sinh học chỉ thích hợp ở một số vùng, một số khu vực không bị ảnh hưởng của nước ngầm, lũ lụt. Khi làm đệm lót sinh học cần tìm hiểu mực nước ngầm và khả năng lũ ngập; ở những vùng có mực nước ngầm cao hoặc vùng đất trũng dễ ngập nước, bắt buộc phải làm nền cao. Nếu lớp đệm lót làm âm xuống dưới mặt đất từ 40-60cm, chắc chắn nước sẽ tràn vào gây chết men và đệm lót hoàn toàn không sử dụng được.

(4) Trong số các nguyên liệu làm đệm lót thì mùn cưa chiếm tới 2/3 khối lượng, cần nghiên cứu thử nghiệm các nguyên liệu khác từ phụ phẩm nông nghiệp để thay thế cho mùn cưa vì khi sử dụng nguyên liệu này với số lượng lớn, nguồn cung cấp nguyên liệu không ổn định, sẽ khó triển khai áp dụng ra diện rộng.

(5) Sử dụng đệm lót sinh học khó đưa vào thực tiễn trong chăn nuôi công nghiệp vì không thể chăn nuôi với mật độ cao. Mật độ tối đa trong chăn nuôi trên nền đệm lót chỉ từ 1,5 - 2m2/1con lợn 60kg.

Mặt khác, trong quá trình nuôi phải bảo dưỡng, đảo xới tơi đệm lót, yêu cầu nghiên cứu và thử nghiệm máy cầm tay để xới, đảo đệm lót khi áp dụng ở quy mô chăn nuôi trang trại./.

2

 

3

4

Chuyển giao kỹ thuật sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi gà tại xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai

Newer news items:

Older news items: