Deutschland online bookmaker http://artbetting.de/bet365/ 100% Bonus.

Nâng cao hiệu quả dạy học tăng cường tiếng Việt cho giáo viên tiểu học các huyện vùng cao tỉnh Lào Cai

                                                                                                                                                                                                                                                         ThS. Lưu Thị Thanh Mai

        Đối với giáo dục Tiểu học, tiếng Việt là môn học nền tảng nhằm trang bị cho học sinh công cụ để học sinh khám phá, học tập các môn học khác, là phương tiện để học sinh tiến hành giao tiếp. Tuy nhiên, thực tế về việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt của học sinh các vùng miền có sự chênh lệch khá lớn, đặc biệt là đối với học sinh vùng cao, điều kiện giao tiếp còn khó khăn, khả năng giao tiếp còn nhiều hạn chế. Một bộ phận rất lớn trẻ em dân tộc thiểu số nói tiếng Việt là ngôn ngữ thứ 2. Xuất phát từ thực tế trên, tăng cường tiếng Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số là vấn đề được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Quyết định số 1008/QĐ-TTg ngày ngày02tháng6năm 2016 đã phê duyệt Đề án“Tăng cường tiếng Việt cho trẻ em mầm non, học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến 2025” với mục tiêu là “tập trung tăng cường tiếng Việt cho trẻ em mầm non, học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số, bảo đảm các em có kỹ năng cơ bản trong việc sử dụng tiếng Việt để hoàn thành chương trình giáo dục mầm non và chương trình giáo dục tiểu học; tạo tiền đề để học tập, lĩnh hội tri thức của các cấp học tiếp theo; góp phần nâng cao chấtlượng cuộc sống và phát triển bền vững các dân tộc thiểu số, đóng góp vào sự tiến bộ, phát triển của đất nước

       Lào Cai là một trong 42 tỉnh, thành phố nằm trong danh sách của đề án, là nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, trẻ em vùng cao Lào Cai gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp bằng tiếng Việt, điều này có ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ vì tiếng Việt góp phần quan trọng vào việc học tập ở trường phổ thông cũng như sự thành đạt trong cuộc sống của trẻ sau này.

        Vì vậy, đối với giáo dục tiểu học tỉnh Lào Cai, việc tăng cường tiếng Việt cho học sinh ngày càng trở lên cấp bách, cần được quan tâm. Tuy nhiên, việc tổ chức hoạt động này còn chưa hiệu quả do nhiều yếu tố: người dạy, người học, nội dung, phương pháp…Với mong muốn nâng cao hiệu quả hoạt động tăng cường tiếng Việt cho học sinh tại các trường tiểu học, chúng tôi đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quảdạy học tăng cường tiếng Việtcho học sinh dân tộc thiểu số cho giáo viên tiểu học các huyện vùng cao tỉnh Lào Cai.

         Qua tìm hiểu thực trạng hoạt động tăng cường tiếng Việt của giáo viên tiểu học cho học sinh dân tộc thiếu số ở một số huyện vùng cao của tỉnh Lào Cai, chúng tôi nhận thấy, phần lớn cán bộ quản lý và giáo viên đều nhận thức đúng đắn về hoạt động tăng cường tiếng Việt; các giáo viên được tạo môi trường chia sẻ, thảo luận, hỗ trợ lẫn nhau trong hoạt động tăng cường tiếng Việt, trong xây dựng môi trường tiếng Việt, trong các hoạt động trải nghiệm, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Tuy nhiên, việc tổ chức và đánh giá hoạt động tăng cường tiếng Việt còn nhiều hạn chế; Chưa có sự phân loại cụ thể đối với từng đối tượng học sinh cần tăng cường về tiếng Việt, các hoạt động tăng cường tiếng Việt thường được tổ chức ở buổi học chiều, thời lượng dành cho hoạt động này không nhiều; Học sinh chủ yếu là dân tộc thiểu số (khoảng 70- 80 %) nên việc theo học tiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ thứ 2 đặc biệt khó khăn vì các em vừa phải học ngôn ngữ và vừa phải tiếp thu tri thức qua 1 ngôn ngữ không phải là ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ, giáo viên là người nói tiếng Việt là ngôn ngữ thứ 1 gặp khó khăn trong quá trình dạy học tiếng Việt cho học sinh; Giáo viên dạy học theo một chương trình sách giáo khoa thống nhất trong toàn quốc, không phân biệt đối tượng học sinh học tiếng Việt là ngôn ngữ thứ nhất hay học tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai nên có nhiều khó khăn trong việc sử dụng các phương pháp dạy học đặc trưng của môn tiếng Việt.

         Từ nhưng phân tích trên chúng tôi đề xuất một số biện pháp nâng cao năng lực dạy học tăng cường tiếng Việtcho học sinh dân tộc thiểu số cho giáo viên tiểu học các huyện vùng cao tỉnh Lào Cai.

         Biện pháp 1. Nhà trường tiểu học cần quan tâm đến hoạt động tăng cường tiếng Việt bằng việc tổ chức khảo sát, phân loại những hạn chế học sinh gặp phải khi học tiếng Việt.

         Xây dựng chương trình tăng cường tiếng Việt cho từng nhóm đối tượng cụ thể, bởi học sinh có thể đều nói tiếng Việt là ngôn ngữ thứ 2 và ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ của các em là không giống nhau, các em có thể thuộc nhiều dân tộc thiểu số. Vì vậy, để nâng cao chất lượng hoạt động tăng cường tiếng Việt cho học sinh, mỗi nhà trường, giáo viên cần xây dựng kế hoạch, lựa chọn, phân bố thời gian chương trình, nội dung tăng cương tiếng Việt cho học sinh, đảm bảo mỗi đối tượng đều được phát triển các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt, đáp ứng chuẩn kiến thức kỹ năng, tăng khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt cho học sinh. 

         Biện pháp 2. Tăng cường công tác bồi dưỡng về phương pháp dạy học tiếng Việt như là ngôn ngữ thứ 2 cho đội ngũ giáo viên

         Bồi dưỡng cho giáo viên tiểu học xác định rõ các nguyên tắc dạy học tiếng Việt nguyên tắc dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, cụ thể là:  

         Nguyên tắc 1. Hiểu chính xác nghĩa từ vựng, cấu trúc cú pháp

         Nguyên tắc 2. Phát triển kỹ năng tư duy theo cấp độ nhận thức

         Nguyên tắc 3. Rèn luyện kỹ năng nghe nói, đọc, viết

         Nguyên tắc 4. Tăng cường hoạt động học tập tương tác

         Nguyên tắc 5. Sử dụng phương pháp đa dạng

          Nguyên tắc 6. Xây dựng môi trường học tập thân thiện

         Nguyên tắc 7. Học sinh học hiệu quả với các ngữ liệu học tập mang tính khuyến khích và hứng thú

          Nguyên tắc 8. Học sinh sẽ học tốt hơn khi các em được vận dụng những gì đã học, đã biết để vào học nội dung mới.

           Nguyên tắc 9. Đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá

           Nguyên tắc 10. Nhận xét mang tính xây dựng của giáo viên

           Khi hiểu rõ các nguyên tắc trên, giáo viên sẽ tìm ra con đường, cách thức giúp học sinh dân tộc thiểu số học ngôn ngữ tiếng Việt một cách hiệu quả.

Biện pháp 3. Nâng cao năng lực thiết kế các hoạt động tăng cường tiếng Việt linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với đối tượng, chú ý đến tích hợp dạy học tiếng Việt trong các hoạt động giảng dạy và giáo dục trong nhà trường

Để tăng cường tiếng Việt cho học sinh tiểu học, giáo viên cùng học sinh thiết kế các môi trường giàu chữ viết trong và ngoài lớp học.

Môi trường giàu chữ viết trong nhà trườngbao gồm: Cảnh quan trường lớp; thư viện; Hoạt động dạy - học; Phương tiện dạy và học; các hoạt động bổ trợ (Đọc sách, xem băng hình, trò chơi, văn nghệ…)

Môi trường học tiếng ngoài nhà trườngbao gồm: Đặc điểm dân cư (Dân số, thành phần dân tộc, tình trạng cư trú…); Môi trường văn hoá - xã hội (Trình độ dân trí, sinh hoạt văn hoá, ngôn ngữ giao tiếp trong cộng đồng, tình hình sử dụng tiếng Việt, tiếng dân tộc…); Môi trường gia đình (Ngôn ngữ giao tiếp trong gia đình, các phương tiện nghe nhìn…)

Thông qua việc xây dựng môi trường giàu chữ viết, giáo viên giúp học sinhthường xuyên có ý thức củng cố và hiểu thêm về các từ vựng đã học, mở rộng vốn từ vựng tiếng Việt, duy trì và phát triển thái độ hứng thú học tiếng Việt của học sinh, phát triển các kỹ năng học và xử lý từ mới cho học sinh.

Tùy điều kiện cụ thể của từng nhà trường, lớp học, giáo viên có thể sử dụng các hình thức, biện pháp tạo môi trường giàu chữ viết cho học sinh tiểu học. Có thể sử dụng các hình thức, biện pháp sau:

         */ Sử dụng các hoạt động để duy trì hứng thú học tập:

        Giáo viên tổ chức các hoạt động học vui - vui học, trò chơi, các hoạt động lớp hoặc nhóm, cuộc thi, phong trào, v.v. cho cả lớp hoặc nhóm thực hiện bên ngoài giờ học để vừa giúp học sinh học tiếng Việt, vừa duy trì hứng thú của học sinh. Ví dụ: Hướng dẫn học sinh tìm và sử dụng “Từ của ngày/tuần”: khuyến khích học sinh sử dụng một số từ lựa chọn trong ngày/tuần.  

          */ Sử dụng các giáo cụ trực quan trong không gian phòng học. Ví dụ: bức tường từ vựng, báo tường, thư viện lớp, v.v.

          Áp dụng sáng tạo kỹ thuật “Bức tường từ vựng”: Đây là kỹ thuật phổ biến để tạo môi trường thuận lợi cho học tiếng Việt. Giáo viên bài trí không gian lớp học để tăng cường sự tiếp xúc của học sinh với các từ vựng quan trọng của bài học trong ngày/tuần/chủ đề làm cho việc học từ và ngôn ngữ gắn với sinh hoạt thường xuyên ở lớp và gắn với cuộc sống:

        Ví dụ về Bức tường từ vựng trang trí các từ theo chủ điểm đang học sẽ giúp học sinh tiếp xúc với các từ vựng cần học nhiều lần hơn. Bức tường được bài trí đẹp và khoa học.

          */ Tăng cường hoạt động giao tiếp

        Học sinh dân tộc thiểu số thường ít có cơ hội giao tiếp tiếng Việt ở gia đình và ngoài xã hội. Tâm lí nhút nhát, thiếu tự tin, ngại giao tiếp với người lạ thường thấy ở học sinh dân tộc. Do vậy, giáo viên cần tạo nhiều cơ hội để học sinh được thực hành giao tiếp tiếng Việt bằng nhiều cách:

Tận dụng tối đa tình huống giao tiếp thực: Trong quá trình dạy học thường xuyên đặt câu hỏi và hướng dẫn học sinh đặt câu hỏi; dạy cách giao tiếp với người lớn trong trường

Xây dựng các tình huống giả định: Cho học sinh đóng vai các nhân vật trong bài học, tạo ra các tình huống và hướng dẫn học sinh xử lí tình huống/đóng vai nhân vật trong tình huống...

Trước những thách thức đặt ra từ thực tiễn và đòi hỏi của quá trình đổi mới toàn diện, căn bản nền giáo dục, việc nâng cao năng lực dạy học tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số của giáo viên tiểu học hiện nay khó tránh khỏi những khó khăn nhất định. Để vượt qua thử thách và từng bước giải quyết những vướng mắc ấy, cán bộ quản lý và giáo viên mỗi nhà trường cần phải chủ động hơn trong việc xác định nội dung và phương pháp tăng cường tiếng Việt, nâng cao nhận thức của giáo viên, giúp cho giáo viên ý thức được việc nâng cao năng lực dạy học tăng cường tiếng Việt không chỉ là nhiệm vụ mà còn là mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục nhà trường nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung./.

 

Download Template Joomla 3.0 free theme.