Với nhiều tiềm năng, lợi thế về tài nguyên thiên nhiên và văn hóa bản địa, trong những năm qua chính quyền huyện Bắc Hà đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm đưa địa phương trở thành Trung tâm du lịch khu vực Đông Bắc của tỉnh, từng bước đưa kinh tế du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của huyện. Tuy nhiên, để du lịch của huyện phát triển tương xứng với tiềm năng, theo hướng bền vững cần có những chiến lược phát triển nguồn nhân lực cụ thể, phù hợp với các loại hình du lịch đã được định hướng, đầu tư. Mục đích của bài tham luận là tổng kết thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch tại Bắc Hà, giới thiệu một số mô hình quản lý phát triển nguồn nhân lực du lịch thành công trong nước và quốc tế, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch tại Bắc Hà.
I. Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch tại Bắc Hà
Kết quả khảo sát về lao động và việc làm trong lĩnh vực du lịch được thực hiện bởi tổ chức GREAT năm 2021 [1] tại các công ty lữ hành, khu điểm du lịch và cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh Lào Cai trong đó có huyện Bắc Hà đã chỉ ra một số vấn đề về nguồn nhân lực theo độ tuổi, giới tính, trình độ đào tạo và dân tộc thiểu số (Số liệu thống kê xem tại Bảng 1-3 – Phụ lục). Nguồn nhân lực của các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực lữ hành, khu điểm du lịch khá đa dạng về chuyên môn và được đào tạo theo các lĩnh vực khác nhau. Đặc biệt tỷ lệ lao động dân tộc thiểu số (DTTS) tham gia vào hoạt động du lịch khá nhiều chiếm 24,6% chủ yếu ở độ tuổi từ 22 đến 49.
Theo vị trí công việc nói chung, cán bộ quản lý chiếm 12,66%, bán hàng/ marketing chiếm 6,33%, điều hành và hướng dẫn du lịch chiếm 10,13%, còn lại 70,89% là các vị trí khác. Tuy nhiên đối với DTTS thì các vị trí khác chiếm tới 85,53%, các vị trí đòi hỏi chuyên môn chiếm tỷ lệ ít hơn. Vị trí quản lý từ độ tuổi 35 trở lên là chủ yếu. Theo trình độ đào tạo, trên 52% là lao động phổ thông, đối với DTTS thì tỷ lệ này lên tới hơn 79%. Trong mẫu điều tra không có ai đạt trình độ Tiến sĩ, 0,47% có trình độ thạc sĩ chủ yếu ở độ tuổi trên 35. Đại học và cao đẳng khoảng 31,01%, trung cấp và sơ cấp khoảng 16%. Bên cạnh đó, tỷ trọng được đào tạo chuyên môn du lịch ở các vị trí khác nhau có sự khác nhau đáng kể. Với nhân viên điều hành hướng dẫn du lịch, có tới 54,69% được đào tạo theo đúng chuyên ngành du lịch, kể cả người DTTS. Nhân viên bán hàng/Marketing chỉ có 31,25% được đào tạo theo chuyên ngành du lịch, nhưng không có ai thuộc nhóm DTTS. Thấp nhất là cán bộ quản lý, chỉ có 26,88% được đào tạo theo chuyên ngành du lịch, nhưng người DTTS chỉ đạt tỷ lệ 14,29%.
Nhằm triển khai nghị quyết 11/NQ-TU ngày 27/8/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển du lịch tỉnh Lào Cai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Ban Thường vụ Huyện ủy Bắc Hà đã xây dựng và ban hành Chương trình hành động số 63-CTr/HU, ngày 14/10/2021 về thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TU; tiếp tục chỉ đạo việc xây dựng “Bảo tàng cộng đồng – di sản văn hóa người Mông” tại xã Bản Phố; hoàn thiện nhóm sản phẩm du lịch chủ lực (Chợ văn hóa Bắc Hà, Dinh thự cổ Hoàng A Tưởng, Chợ đêm và các tuyến phố đi bộ, Lê hội đua ngựa, du lịch cộng đồng gắn với du lịch nông nghiệp); tiếp tục nghiên cứu phát triển nhóm sản phẩm du lịch tiềm năng (nghỉ dưỡng cao cấp, gofl, đua thuyền kayak, leo núi, tâm linh, đua ngựa dành cho khách). Có thể nói, chính quyền huyện Bắc Hà đã nhìn ra tiềm năng, lợi thế trong phát triển du lịch của huyện, cùng với các chiến lược, kế hoạch đúng đắn phát triển các sản phẩm du lịch phù hợp với thế mạnh của địa phương theo từng giai đoạn.
Ngay khi dịch Covid-19 ổn định, năm 2022, huyện Bắc Hà đã tổ chức hàng loạt các chuỗi hoạt động, sự kiện để kích cầu du lịch, như: Tổ chức thành công hoạt động đón khách du lịch xông đất; chương trình sắc mận cao nguyên trắng; phục hồi chợ đêm Bắc Hà vào tối thứ 7 hằng tuần; Festival cao nguyên trắng năm 2022 với nhiều hoạt động văn hóa – văn nghệ, thể thao dân tộc đặc sắc. Tổng lượng khách du lịch đến Bắc Hà trong năm 2022 ước đạt khoảng 540.000 lượt khách. Theo một nghiên cứu thống kê năm 2022 [2], Huyện Bắc Hà hiện có 32 cơ sở lưu trú (khách sạn, nhà nghỉ), 45 homestay tạo công ăn việc làm trực tiếp cho hơn 200 lao động.
Nhìn chung, nhân lực du lịch tại Bắc Hà luôn trong tình trạng thiếu và chưa qua đào tạo trong đó có nhân lực lập kế hoạch, nhân lực quản lý, tổ chức và nhân lực thực hiện. Theo báo cáo của huyện, nhân lực hoạt động trong các cơ sở kinh doanh du lịch trên địa bàn chủ yếu chưa qua đào tạo, chưa có chuyên môn, kỹ năng; nguồn nhân lực thiếu và yếu quản lý, điều hành, chưa đáp ứng được tiềm năng phát triển và nhu cầu của du khách trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, tại các mô hình du lịch cộng đồng (DLCĐ) trên địa bàn, hầu hết các hộ dân chưa thật sự am hiểu về quy trình tổ chức, đón tiếp; kiến thức về du lịch, kỹ năng nghề, giao tiếp ngoại ngữ còn hạn chế. Qua khảo sát sơ bộ cũng cho thấy, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác tham mưu, quản lý nhà nước về lĩnh vực du lịch tại các phòng, trung tâm văn hóa – thông tin của huyện còn thiếu, phải kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực công tác, chưa đúng chuyên môn đào tạo về du lịch, thiếu kinh nghiệm thực tiễn…
Với mô hình DLCĐ tại nhiều thôn, bản của huyện hiện nay, đa phần đều xuất phát từ một gia đình thành công trong thôn, bản. Sau đó, khi du khách đến nhiều hơn kéo theo nhiều hộ gia đình khác cùng làm du lịch. Ban đầu, tất cả việc ăn, nghỉ của khách đều do các thành viên trong một gia đình đảm nhiệm/ phục vụ. Khi khách đông, gia đình gọi thêm một số người thân trong họ, trong làng đến trợ giúp và nhận tiền công theo ngày, khoảng 100.000 – 150.000 đồng/ngày/người. Đây là điển hình của mô hình sử dụng lao động gia đình, chưa qua đào tạo trong làm DLCĐ ở Bắc Hà hiện nay.
Nhà nước đã có nhiều cố gắng trong việc tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ cho người dân trực tiếp tham gia hoạt động DLCĐ, đặc biệt là các kỹ năng đón tiếp khách, nghiệp vụ phục vụ du lịch… Tuy nhiên, do kiến thức nhiều mà thời gian tập huấn quá ngắn (thường chỉ diễn ra trong một hoặc hai ngày mỗi đợt) nên các lớp tập huấn chỉ thiên về hình thức, chưa đem lại hiệu quả cao. Bên cạnh đó, các kỹ năng về xây dựng kế hoạch, định hướng phát triển, ý thức phát triển du lịch xanh gắn với bảo vệ môi trường… hầu như chưa được đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu.
II. Kinh nghiệm từ mô hình quản lý nguồn nhân lực du lịch trong nước và quốc tế
Mô hình DLCĐ đã không còn xa lạ trong phát triển du lịch trên thế giới và tại các địa phương trong cả nước. Khác với mô hình du lịch lịch đại chúng (mass toursim) có tác động lớn, có thể làm thay đổi căn bản và toàn diện cấu trúc cơ sở hạ tầng, cơ cấu phát triển kinh tế xã hội và văn hóa của một địa phương. Mô hình DLCĐ hướng tới tôn vinh cảnh quan tự nhiên và các giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của các dân tộc bản địa.
Một nghiên cứu về vai trò DLCĐ được thực hiện tại Cộng hòa El Salvador [3] đã chỉ ra tác động tích cực của phát triển DLCĐ đối với thu nhập của người dân địa phương cũng như đóng góp vào gia tăng tỷ lệ việc làm. Nghiên cứu cũng chỉ ra vai trò quan trọng của phụ nữ và thanh thiếu niên trong lập kế hoạch phát triển các hoạt động du lịch và quản lý kinh doanh quy mô hộ gia đình. Bên cạnh đó, để phát triển DLCĐ tại các quốc gia đang phát triển như El Salvador, cần có sự hỗ trợ từ các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và các trường đại học trong đào tạo, nâng cao chất lượng nhân lực du lịch tại địa phương.
Để phát triển du lịch theo hướng bền vững, nhiều quốc gia đang hướng tới mô hình quản lý nguồn nhân lực xanh thông qua việc áp dụng các chính sách bảo vệ môi trường và giảm thiểu rác thải trong các khâu từ phân tích và mô tả công việc đến tuyển dụng, đánh giá và đào tạo. Theo Al-Romeedy (2019) khi nghiên cứu về thực trạng mô hình quản lý nguồn nhân lực xanh tại Ai Cập cho thấy để áp dụng được mô hình cần nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý và nhân viên hoạt động trong các tổ chức du lịch về lợi ích và các phương thức thực hiện. Bên cạnh đó cũng cần có những chính sách từ chính phủ trong hỗ trợ và tạo điều kiện để các doanh nghiệp du lịch triển khai các phương pháp quản lý nhân lực xanh và phát triển các sản phẩm, dịch vụ thân thiện với môi trường [4].
Tại xã Ngọc Chiến, huyện Mường La, tỉnh Sơn La tuy còn nhiều khó khăn do cơ sở hạ tầng hạn chế; giao thông không thuận lợi, để phát triển DLCĐ bền vững, Ngọc Chiến đã thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó chú trọng cải thiện, phát triển nguồn nhân lực tại chỗ. Chính quyền địa phương với vai trò kiến tạo đã thường xuyên tổ chức các hội nghị đối thoại già làng trưởng bản, người có uy tín; hội nghị toàn dân ở tất cả các thôn bản, nhất là các hộ kinh doanh, doanh nghiệp. Tại các hội nghị, lãnh đạo địa phương đã tập trung lắng nghe ý kiến, tiếp thu những mong muốn, nguyện vọng, góp ý, cũng như khơi dậy ý chí quyết tâm của nhân dân vào từng công việc cụ thể, thể hiện rõ phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.
Cấp ủy, chính quyền địa phương có vai trò chủ đạo trong việc xây dựng chủ trương, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng tập huấn nhân lực địa phương cho công tác DLCĐ. Chính quyền thường xuyên rà soát, đánh giá chất lượng nguồn nhân lực du lịch và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của các hộ kinh doanh du lịch; xây dựng chương trình các khóa đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn phù hợp với nhu cầu nguồn nhân lực của các hộ kinh doanh du lịch, đồng thời lựa chọn các cơ sở đào tạo đủ năng lực tổ chức thực hiện. Chủ trì phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức chương trình học tập, bồi dưỡng cho nông dân về định hướng đầu tư, kinh doanh; kỹ năng, nghiệp vụ phục vụ khách du lịch. Tổ chức các khóa đào tạo ngắn hạn, kết hợp với việc học hỏi kinh nghiệm về phát triển mô hình du lịch nông thôn tại các địa phương trong nước. Hướng dẫn người dân, cộng đồng địa phương nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ tài nguyên môi trường du lịch, thái độ ứng xử văn minh đối với khách du lịch. Chính quyền xã đã huy động toàn thể nhân lực địa phương, tổ chức tuyên truyền kêu gọi người dân không để ai ngoài cuộc; khéo léo lồng ghép trong các chương trình nông thôn mới vào việc phát triển DLCĐ. Thành lập các tổ nghệ nhân, bao gồm những người có hiểu biết sâu rộng về lĩnh vực văn hóa truyền thống; tổ chức lớp đào tạo con em địa phương; thành lập các đội văn nghệ dân gian là những người lao động tại địa phương; chuẩn bị thành lập hợp tác xã mây tre đan tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động tại chỗ là người DTTS; thành lập ngày thứ 7 với dân, nhằm huy động toàn bộ nhân lực tham gia các hoạt động xây dựng nông thôn mới, góp đất, góp sức xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng mà không dùng đến ngân sách (còn gọi là chủ trương 0 đồng) III. Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch tại Bắc Hà
Dựa trên một số vấn đề thực trạng và bài học kinh nghiệm trong và ngoài nước, tác giả đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch tại Bắc Hà như sau:
Một là, Bắc Hà có tiềm năng phát triển về DLCĐ và du lịch nghỉ dưỡng. Chính quyền địa phương cần có những quy hoạch rõ ràng, cụ thể và một chiến lược đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng bài bản. Bên cạnh đó, cũng cần có những kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phù hợp về số lượng và trình độ. Chính quyền địa phương cần giáo dục nhận thức và nâng cao hiểu biết cho cán bộ quản lý và cộng đồng dân cư về vấn đề về bảo vệ môi trường và ý nghĩa của phát triển DLCĐ. Cần huy động sự tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị địa phương như Hội Cựu chiến binh, Hội phụ nữ, Hội nông dân, Đoàn thanh niên… cùng phát triển DLCĐ. Nâng cao nhận thức và tạo động lực để người dân tự nguyện làm du lịch tăng thu nhập của mình, góp phần xây dựng nông thôn mới, xóa đói giảm nghèo.
Hai là, chính quyền địa phương giữ vai trò chủ đạo trong việc xây dựng kế hoạch, tổ chức tập huấn, hướng dẫn cho người dân về cách làm DLCĐ, về các kỹ năng nghiệp vụ phục vụ khách du lịch như lễ tân, buồng, bàn, bar, bếp, hướng dẫn du lịch… kể cả vấn đề quản lý, phân chia lợi ích kinh tế trong phát triển DLCĐ. Nên xây dựng các chương trình đào tạo, tập huấn với thời lượng và đối tượng phù hợp để nâng cao chất lượng, hiệu quả của các khóa đào tạo, tập huấn.
Ba là, chính quyền địa phương cần xây dựng các hướng dẫn và qui định, có thể đưa vào trong các hương ước đối với cộng đồng cư dân tại các thôn, bản có hoạt động DLCĐ để tránh tình trạng lai căng, du nhập văn hóa không lành mạnh, bảo vệ và giữ gìn môi trường xã hội – nhân văn, văn hóa bản địa, bảo vệ và giữ gìn môi trường thiên nhiên, vệ sinh nhà ở, thôn xóm, vệ sinh an toàn thực phẩm; tránh tình trạng bê tông hóa. Đồng thời có những quy định và hướng dẫn để khách du lịch hiểu và tôn trọng luật pháp Việt Nam, phong tục, tập quán địa phương.
Bốn là, chính quyền các cấp cần có các chính sách hỗ trợ, miễn giảm thuế, chính sách cho vay nhằm khuyến khích người dân khởi nghiệp trong lĩnh vực du lịch. Bên cạnh đó, chính quyền địa phương cần chủ động giúp cộng đồng kết nối với các công ty du lịch, các tổ chức phi chính phủ để hỗ trợ người dân quảng bá sản phẩm ra thị trường trong và ngoài nước. Đồng thời giúp các tổ chức DLCĐ quảng bá sản phẩm, hình ảnh DLCĐ trên địa bàn toàn huyện.
Năm là, việc phát triển DLCĐ không nên làm ồ ạt, làm theo phong trào mà cần có sự chuẩn bị bài bản, nhất là công tác tìm hiểu thị trường khách, quảng bá và các điều kiện phục vụ khách. Không tính đầy đủ các yếu tố này thì dễ đi đến thất bại. Nhà nước cần có sự khen thưởng, động viên khuyến khích các hộ dân, các doanh nghiệp làm tốt DLCĐ, có sự đóng góp tích cực cho xã hội. Đồng thời nhân rộng điển hình trong thị xã, giao lưu, học hỏi kinh nghiệm bên ngoài để làm tốt hơn DLCĐ.
TS. Nguyễn Thành Luân
